TRIẾT LÝ GIÁO DỤC (Phần 1.1) – NỀN GIÁO DỤC BỊ ĐỨT ĐOẠN

0
394

Phải khẳng định chất lượng là thứ không thể thay đổi trong ngày 1 ngày hai mà cần cả một sự kiên trì theo đuổi trong một thời gian đủ dài.

Khá lâu rồi mình mới có cảm hứng để viết tiếp phần 2 của series này. Phần vì lười, phần vi cần thêm thời gian để suy ngẫm. Sau phần 1, có nhiều bạn, sinh viên và cả đồng nghiệp gọi điện, nhắn tin chia sẻ và trao đổi những nội dung mình đã viết. Có bạn cho rằng mình đang có cái nhìn hơi bi quan về chất lượng đào tạo của nền giáo dục Việt. Sau khi nghe, trao đổi và cân nhắc các quan điểm đa chiều, tôi xin dành status này dể bàn tiếp về những nguyên nhân cho những hạn chế trong chất lượng đào tạo của Việt Nam.

Phải khẳng định chất lượng là thứ không thể thay đổi trong ngày 1 ngày hai mà cần cả một sự kiên trì theo đuổi trong một thời gian đủ dài. Hầu hết chúng ta đều đã từng không dưới một lần nghe câu: “lượng đủ sẽ biến đổi thành chất.”. Vì thế không thể nào đòi hỏi và mơ tưởng 1-2 nhiệm kỳ bộ trưởng với một vài cái sáng kiến lẻ tẻ là có thể thay đổi 1 cách toàn diện bộ mặt của nền giáo dục và nâng cao chất lượng đào tạo của 1 quốc gia. Cũng không nên nhìn vào 1 số thất bại, khủng hoảng để đánh giá nền giáo dục đang có vấn đề.
Đa phần chúng ta đều bức xúc khi nói về giáo dục vì sao. Vì chúng ta chỉ nhìn vào những hiện tượng đang diễn ra mà quên mất cái gì cũng có gốc rễ của nó. Chúng ta tung hô mô hình của Mỹ, Nhật, Hàn, Phần Lan và cả Singapore mà quên mất xem họ đã và đang làm gì cho hệ thống giáo dục.
Chúng ta luôn mồm nói 1 cách đầy AQ rằng khi Sài gòn là hòn ngọc viễn đông thì Nhật, Hàn vẫn đang là đống đổ nát còn Singapore thì chỉ là 1 làng chài nhỏ.. Cái suy nghĩ có vẻ lạc quan tếu đấy rất nhanh chóng chuyển sang trạng thái tiêu cực và những ánh mắt nhìn xuống đầy hổ thẹn khi nhìn vào thành quả mà họ đang gặt hái. Tất cả đều có nguyên nhan của nó cả đấy các anh, chị ạ.
Những hạn chế bao gồm cả khách quan và chủ quan, bao gồm cả định hướng – chủ trương và cả thực tiễn triển khai. bao gồm cả những hạn hế trong hệ tư tưởng nhược tiểu và cả tâm lý chuộng ngoại.
Lịch sử – Đây là lý do dễ được đổ tại nhất và cũng là thứ luôn được các nhà giáo dục nước nhà đem ra để biện hộ. Thôi thì cứ thử review xem sao nha.
Khách quan mà nói, cho dù các tài liệu tuyên giáo của chúng ta luôn rao giảng và tự hào rằng Việt Nam là quốc gia trọng cái sự học khi chúng ta đã từng có trường đại học từ khá lâu đời – Quốc tử giám. Cái này thì chả sai nhưng mô hình và quy mô của Quốc Tử Giám thì chỉ tương đương 1 vài lớp chuyên dành cho các học sinh giỏi thời hiện đại. Các môn học mà học liệu thì được ghi chép lại trong các tài liệu khảo cứu lịch sử thì chỉ loanh quanh những nội dung của Nho giáo mà không thấy có các môn khoa học – nền tảng của giáo dục đại học ngày nay. Vì vâỵ, mô hình giáo dục đại học trên diện rộng và một cách chính thống mới chỉ bắt đầu ở nước ta từ cuối thời Pháp thuộc – có nghĩa là toàn bộ kinh nghiệm và trả giá mới chỉ gói trọn trong vòng 100 năm. Tuy nhiên, 100 năm này lại bị băm chặt thành rất nhiều mảnh với rất nhiều triết lý và quan điểm đào tạo hoàn toàn khác nhau. Thêm nữa tác động của chiến tranh và phân mảnh của hệ thống chính trị, tư tưởng cũng làm cho sự phát triển của nền giáo dục đào tạo của Việt nam bị đứt đoạn nhiều lần. Mỗi lần thay đổi thể chế chúng ta lại có 1 sự thay đổi về triết lý, quan điểm đào tạo cũng như hệ thống học liệu. Sau cách mạng tháng 8, hầu hết học liệu của giai đoạn trước đều bị tiêu huỷ hoặc bỏ xó vì chúng được coi là tàn sư của thực dân và đế quốc. Cũng tương tự sau năm 1975 ở miền Nam, bao tài liệu, giáo viên và các thành quả giáo dục lại một lần nữa được xoá bỏ hoàn toàn. Về mặt chính trị thì tôi không dám và cũng không muốn lạm bàn nhưng ở góc độ thi thức và giáo dục thì họ đã làm một công việc giống như đạp bỏ 1 căn nhà 3 tầng có chất lượng để xây lại từ móng nhà với hệ thống vật liệu chưa chắc đã tốt với một lý do đơn giản là nhìn chướng mắt thì đập bỏ. Ôi thôi, tiếc thay cho tri thức dân tộc.
Không chỉ có những hạn chế từ chiến tranh và sự thay đổi thế chế, những biến động của nền chính trị thế giới và sự bẻ lái của hệ tư tưởng cũng kéo theo rất nhiều những bập bềnh cho giáo dục. Trong giai đoạn chịu nhiều ảnh hưởng của khối xã hội chủ nghĩa mà điển hình là Liên Xô, chúng ta có 1 hệ thống đạo tạo nặng tính lý thuyết và các môn khoa học cơ bản. yếu tố ứng dụng và đào tạo nghề hầu như bị bỏ qua, thậm chí coi thường. Điều này đã dẫn đến hệ luỵ là “trường dại học là cánh cửa vào đời”, hay “kỹ sư các ngành khoa học cơ bản mới là tri thức còn các cử nhân kinh tế chỉ là những con buôn có bằng cấp”, hay việc ép học sinh học quá nhiều các kiến thức cao siêu về Toán, Lý, Hoá mà cũng chả biết cái đấy về sau được sử dụng làm cái quái gì. Chắc không ít ngừoi đọc status này không thể trả lời được câu hỏi mình phải học tích phân, đạo hàm, hình học không gian hay toán cao cấp làm gì.
Những thứ này tiếp diễn trong gần 3 thập kỷ đến đầu năm 1990 khi mà Liên bang Xô Viết sụp đổ và chúng ta bắt đầu mở cửa với thế giới. Và khi mở cửa để giao lưu kinh tế, thì các chương trình đào tạo về kinh doanh lên ngôi. Các nhà chính trị thì luôn mồm nhắc về cái cụm từ đào tạo theo nhu cầu của thị trường.
Thực lòng, tôi cho rằng đây là quan điểm bullshit nhất vì nhu cầu của thị trường thay đổi liên tục trong khi để có thể đào tạo ra 1 nhân sự cho lĩnh vực đó chúng ta bỏ ra không ít hơn 10 năm từ khâu chuẩn bị học liệu, xây dựng chương trình, đào tạo giảng viên, tuyển sinh, đào tạo và đưa họ vào thị trường lao động. Tôi đồng ý rằng lúc thị trường có nhu cầu, thậm chí nhu cầu cao về một nguồn nhân lực nào đó ta tiến hành đào tạo ngay ngành đó nhưng lúc người học tốt nghiệp ngành đó có nhu cầu nữa không hay đã bị thay thế bởi những ngành khác. Thực trạng này đã từng xảy ra với rất nhiều ngành như ngân hàng, bất động sản hay cả công nghệ thông tin.
Những năm 2000, nhà nhà đổ xô vào Ngoại thương, kinh tế, tài chính, thương mại trong khi các ngành đào tạo về khoa học cơ bản lui dần vào bóng tối. Các trường lao vào mở các khoa kinh tế trong khi chất lượng của đội ngũ, học liệu và các hệ thống đảm bảo chẩt lượng hoàn toàn bị thả nổi. Giáo viên thì hầu hết không hoặc chưa từng có kinh nghiệm về kinh doanh và quản lý kinh tế dẫn đến tình trạng “cơm chấm cơm” – thuần tuý là nhắc lại các nội dung lý thuyết trong sách giáo khoa. Kỹ sư các trường kỹ thuật, các ngành nghiên cứu cơ bản ra trường không có việc phải đổi nghề đi buôn. Rất nhiều tỉ phú của chúng ta thuộc mô tuýp này. Làm kỹ thuật thì chả có gì để làm, làm ở các phòng, viện nghiên cứu thì đói há cả mồm nên thôi đành con buôn vậy. Không phải họ không yêu nghề, không muốn làm nghề mà họ là nạn nhân của một nền giáo dục thiếu định hướng và dự báo kém. Và đến khi mà cần phát triển hoạt động sản xuất như hiện nay, chúng ta lại cuống cuồng đi đào tạo kỹ sư, thu hút nhà khoa học vì sự tiếp nối thế hệ đã bị đứt đoạn gần 20 năm. Hic. tiếp theo, sự thừa mứa của các chương trình đào tạo về kinh doanh chất lượng làng nhàng đang đặt xã hội trước cuộc khủng hoảng của việc cử nhân kinh tế đi lái Grab hay cử nhân Ngoại thương về làm công nhân khu công nghiệp.
Đồng thời với mở cửa kinh tế, chúng ta cũng mở cửa và chuyển giao, áp dụng rất nhiều mô hình đào tạo của nước ngoài. Mô hình của Mỹ với khoảng 140 tín chỉ đã và đang được áp dụng ở đa số các trường đại học có thể sẽ bị thay thế bởi mô hình đào tạo của Anh quốc với hệ thống môn học tích hợp. Hhuhuhu. Nếu cái đề án và chương trình sách giáo khoa mới được thông qua với hệ thống các môn học tích hợp được thông qua, thì số phận nền giáo dục này sẽ một lần nữa bị đẩy ra đường.
Mô hình và cách xây dựng chương trình này đã và đang được triển khai ở Anh và theo quan điểm của 1 người đã từng dậy khá nhiều chương trình nhập khẩu của Anh Quốc, tôi cho rằng chúng ta hoàn toàn đủ khả năng để triển khai. Tuy nhiên, nếu điều đó xảy ra, bàn cờ giáo dục vừa thành hình sẽ được xoá đi xếp lại từ đầu.
Và còn nhiều thứ nữa như STEM…….
Thôi xin mượn 1 câu nói của 1 anh bạn trẻ tôi mới quen để kết bài viết này: “loanh quanh lắm, kiểu gì cũng dẫm phải ….”

Để lại phản hồi

Please enter your comment!
Please enter your name here